Siêu dịch vụ chăm sóc sức khoẻ đẳng cấp Hoàng Cung

Bài dự thi Tìm hiểu nền y học Cung Đình triều Nguyễn – Thí sinh: La Thanh Loan

Ngày đăng: 13/06/2019 - Cập nhật lúc 9:37 am , 14/06/2019

BÀI DỰ THI: TÌM HIỂU VỀ NỀN Y HỌC CUNG ĐÌNH TRIỀU NGUYỄN VÀ SỨ MỆNH CỦA NGÀNH Y HỌC CỔ TRUYỀN THỜI HIỆN ĐẠI

 

Nước Đại Việt ta, kể từ khi giành được độc lập dân tộc sau hơn 1000 năm chiến đấu dưới ách đô hộ của thực dân phương Bắc, các triều đại phong kiến, bên cạnh việc củng cố quốc phòng an ninh, ra sức mở mang bờ cõi thì cũng rất chú trọng xây dựng các các tổ chức chăm lo đến các mặt đời sống của nhân dân cả về kinh tế, văn hóa, xã hội và y tế.

Với mỗi giai đoạn lịch sử lại có những dấu ấn đáng lưu tâm đối với y học nước nhà. Thời kỳ đỉnh cao có thể kể đến như Thời Nhà Lý (1010-1224) thành lập Ty Thái Y chăm lo bảo vệ sức khỏe cho vua quan, nhiều thầy thuốc có tiếng lo việc chữa bệnh cho nhân dân. Thời bấy giờ, phương pháp trị bệnh bằng tâm lý có dấu hiệu manh nha bằng sự kiện Lương y Nguyễn Chí Thành dùng tâm lý trị liệu chữa cho vua Lý Thần Tông khỏi bệnh. Sang đến thời Trần – Hồ với sự xuất hiện của nhiều thầy thuốc nổi tiếng, vững vàng về y lý lẫn điều trị lâm sàng, chữa trị được nhiều bệnh nan y, làm nền tảng cơ bản cho nền Y học Việt Nam sau này. Tiêu biểu có:

– Lương y “đặt y đức lên trên mọi quyền thế” – Phạm Công Bân. Ông là bố vợ của Hồ Quý Ly, làm thuốc ở Thăng Long, dưới thời vua Trần Anh Tông, với tài năng đức độ của mình, ông giữ chức Thái Y lệnh, trông coi sức khỏe cho vua, quan và hoàng tộc.

-Nguyễn Đại Năng – nhà châm cứu nổi tiếng thời Hồ. Ông đã viết tập “Châm cứu tiệp hiệu diễn ca” ghi lại cách chữa 130 loại bệnh chứng, 140 huyệt châm cứu.

-“Vị thánh thuốc Nam” Tuệ Tĩnh (Nguyễn Bá Tĩnh), với rất nhiều tác phẩm còn lưu lại cho hậu thế: Nam Dược Thần Hiệu (trong đó viết 3932 phương thuốc đơn giản chữa 183 loại bệnh và cấp cứu), “Nam dược quốc ngữ phú” (ghi công dụng của 214 vị thuốc Nam,… “Hồng nghĩa giác thư y” (biên soạn khoảng 500

bài thuốc Nam, ghi theo lối thơ Đường luật). Các công trình của ông có ý nghĩa vô cùng to lớn, dưới sự ảnh hưởng ít nhiều của Y học Trung Quốc lên đất nước, khẩu hiệu “Nam dược trị Nam nhân” đặt nền móng cho nền Y học cổ truyền Việt Nam ta.

Nhưng, không lâu sau đó, Y học dần bị ngưng trệ, không thể phát triển được do đất nước phải một lần nữa đối mặt với sự xâm lược ồ ạt từ phía quân nhà Minh. Mãi cho đến thời Hậu Lê, y học lại mới có dấu hiệu khởi sắc, khi Bộ Luật Hồng Đức được ban hành cũng đã có những quy chế đặt ra cho ngành Y. Mở các khóa thi tuyển lương y, tổ chức khoa giảng dạy ở Thái y viện, đặt các học chức ở phủ, huyện để dạy nghề thuốc. Soạn các tác phẩm : Y Học Nhập Môn Diễn Ca, Nhân Thân Phú… Thời gian này có nhiều danh y : Nguyễn Trực với tác phẩm Bảo Anh Lương Phương , Lê Hữu Trác với tác phẩm Hải Thượng Y Tông Tâm Lĩnh 28 tập 66 quyễn, Hoàng Đôn Hòa với tác phẩm Hoạt Nhân Toát Yếu bàn về tổ chức y tế quân đội.

Dưới thời nhà Nguyễn trị vì (1802-1945), nét đặc sắc trong lịch sử phát triển của Y học cổ truyền dân tộc là có nền Đông y phục vụ cung đình với cách tổ chức ở mức hoàn thiện hơn, do triều đình quản lý mà nổi bật là Thái Y Viện – nơi phục vụ chăm sóc sức khỏe cho vua,và hoàng tộc triều Nguyễn tại Kinh đô Huế.

Dưới thời vua Gia Long, Thái Y viện tồn tại ở dạng mô hình các Dưỡng tế sự hay Tế sinh đường, là nơi cư trú cho những người già cả, bệnh tật, trẻ mồ côi, nhất là người mắc bệnh nan y như phong hủi. Về sau vua Minh Mạng bỏ Dưỡng Tế Sự thành lập Thái Y Viện  tại Huế, ở các tỉnh, Tế sinh đường đổi thành Ty lương y.

Việc hoàn chỉnh quan chế triều Nguyễn qua các thời kì?

Vua Gia Long Vua Minh Mạng
Trật phẩm Hàm chức Trật phẩm Hàm chức
Tản Giai Chánh Ngũ Phẩm Thái Y viện Ngự Y Chánh Tứ phẩm Thái y viện Viện Sứ
Tản giai Tòng ngũ phẩm Thái Y viện phó Ngự Y Chánh Ngũ phẩm Thái Y viện Ngự Y
Tản giai Tòng lục phẩm Thái Y viện Y chính Tòng Ngũ phẩm Thái Y viện phó Ngự Y
Tản giai Tòng thất phẩm Thái Y viện Y phó Chánh Lục phẩm Thái Y viện tả viện phán- sắc thụ Thừa vụ lang, thụy Đôn Nhã
Tản giai Tòng cửu phẩm Lương y

Ngoại khoa lương y

Tòng Lục phẩm Thái Y viện hữu viện phán-sắc thụ Văn Lâm lang, thụy Đôn Túc.
Tòng Thất phẩm Thái Y viện Y chính
Chánh Bát phẩm Thái y viện ngoại khoa y chính
Tòng Bát phẩm Thái Y viện Y phó
Chánh cửu phẩm Thái Y viện ngoại khoa y phó

Thái y viện y sinh

Tòng cửu phẩm Thái y viện ngoại khoa y sinh

Lương y ty y sinh

Sắc thụ : sắc mệnh của triều đình cho tước hiệu

Ngoài ra, còn có Tượng Y ty là nơi đem phương pháp chữa thuốc mà chữa cho voi của nhà nước, cũng có phẩm hàm như sau: Chánh cửu phẩm Tượng Y ty Tượng y phó- sắc thụ Đăng sĩ lang, thuỵ Cung Mậu và Tòng cửu phẩm tượng Y ty tượng y sinh- sắc thụ Đăng sĩ tá lang, thuỵ Cung Phác.

Vai trò của Thái Y viện?

Phàm việc phân biệt hư, thực, âm, dương và phép gốc, ngọn, sau trước, những sự có quan hệ đến thuốc thang đều giao cho viện Thái y cả. Ngoại khoa y ty cũng lệ thuộc vào viện đó. Viện sứ coi giữ chính lệnh về y dược, đốc suất thuộc viên để cùng làm việc thuốc. Ngự y và Phó ngự y cùng tham dự vào việc thuốc để giúp viện sứ. Các thuộc viên có y chánh, y phó, y sinh và thuộc nhân, chia nhau giữ phần việc mình. Về ngành ngoại khoa cũng có y chánh, y phó và y sinh làm việc chuyên khoa theo chức nghiệp mình.”

Khám bệnh và ra vào cung?

Từ triều vua Gia Long đến đầu triều vua Tự Đức, Thái Y viện được thành lập nên với sự quy tụ của nhiều nhà thuốc đông y lớn, nhiều danh y, ngự y nổi tiếng với hàng trăm phương thuốc hay, bài thuốc quý còn được lưu truyền trong dân gian. Phải trải qua nhiều đợt sát hạch gắt gao, “thử việc” bằng cách chữa trị cho binh lính, người dân trong các đợt dịch bệnh thành công thì những thầy thuốc mới chính thức được làm trong viện. Và để có thể được khám bệnh cho Vua chúa thì chỉ có 1-2 quan Thái Y sở hữu y thuật tinh thông, tính tình cẩn thận, lập trường quyết đoán mới được cấp thẻ ngà cho vào hầu trực, xem mạch. Nhưng không phải Thái Y nào đến bắt mạch cũng có thể kê đơn thuốc cho Vua uống ngay. Lại phải kinh qua nhiều lần chọn lựa thuốc hết sức kỹ càng bởi quan viện Thái Y cùng Ty Cẩn Tín, Phủ Nội Vụ và thị vệ. Và khi bào chế thuốc, 4 nha này phải cùng nhau làm việc, hội chẩn tìm ra phương thuốc tốt nhất rồi mới sắc thuốc, dâng lên cho Vua. Tất cả các bài thuốc đều được lại trong Châu bản.

Lại nói thêm, cứ 2 năm một lần, các Y quan bốc thuốc trong viện phải được kiểm tra đánh giá chất lượng tay nghề định kỳ. Nếu ai qua thì được tiếp tục làm việc, làm tốt, nhất là chữa được khỏi bệnh cho người trong triều đình thì sẽ được hưởng bổng lộc, vinh hoa phú quý không để đâu cho hết. Còn nếu không vượt qua được kỳ sát hạch thì có thể bị giáng vài cấp bậc. Làm Ngự Y tức là đã có trình độ chuyên môn, kỹ thuật bậc nhất, được Vua tin tưởng, ban ân huệ giao « Long thể » mà chữa trị thế nhưng, phút hư vinh trước đó có thể nhanh chóng lụi tàn,  chẳng biết rồi mai sống hay chết, chỉ một chút sơ sẩy nhỏ thôi cũng mất mạng như chơi. Thế mới nói « Bạn quân như bạn Hổ », lúc vinh hưởng sung sướng thì không ai bằng nhưng chẳng may sa cơ lỡ vận, nghiệp có khi cả dòng họ cũng phải gánh chung một kết cục. Càng những người thân cận, mà đặc biệt lại là những người liên quan trực tiếp đến « tính mệnh » của Vua như những Ngự Y đây thì càng khổ trăm bề, lúc nào cũng có cảm giác như ngồi trên đống lửa, nơm nớp lo sợ.

Đấy là còn chưa kể phải khám chữa bệnh cho người ở hậu cung. Phàm là một khi đã vào Nội thì không còn được tiếp xúc với đàn ông nữa nhưng khổ nỗi, đương lúc ốm đau cần được chữa trị, Thái Y trong viện lại toàn là đàn ông dù đã đứng tuổi. Vậy là những quy trình trong chữa bệnh  Đông y « vọng, văn, vấn, thiết » cũng coi như thứ lý thuyết suông, mọi kết quả, phương hướng điều trị đều phụ thuộc cả vào những lần bắt mạch mơ hồ, ít căn cứ.

Làm Thái Y triều đình, âu cũng thật lắm cái khổ!

 

Việc thi tuyển vào Thái Y viện ra sao?

Các Ngự Y triều Nguyễn đa phần là các thầy thuốc có tiếng trong dân gian, họ được tiến cử để vào kinh chữa bệnh cho vua và hoàng tộc. Có người sau đó được ở lại, có người xin về ở ẩn. Như Nguyễn Quang Lượng (1777-1847) ở Hà Tây từng được mời vào chẩn mạch cho vua Gia Long năm 1819 hay Tú  tài Nguyễn Địch ở Từ Liêm được Bùi Văn Dị tiến cử vào làm việc trong Thái Y viện thời vua Tự Đức.

Thời vua Tự Đức cho mở nhà dạy học thuốc của viện Thái y và định điều lệ nhằm đào tạo nhân sự cho Thái Y Viện, người trúng tuyển gọi là Y sinh-trật tòng cửu phẩm.

-Trường học đặt ở ngoài hoàng thành cử 2 viên tư giáo, giảng dạy về các sách nội khoa và ngoại khoa, 4 tháng quý thì khảo hạch. Nội khoa thì hỏi về Nội kinh

-Nội kinh : tên sách thuốc, 1 điều phép bắt mạch. Chữa bệnh 3 điều.

-Ngoại khoa thì hỏi 3 điều về phép chữa bệnh.

Xét những nhân viên làm việc đã đủ 4 năm đánh giá công trạng đều dựa vào bắt mạch chữa bệnh, xét thấy hiệu nghiệm, thì tâu xin cho bổ. Cứ 2 năm phái 3 nha hội đồng đánh giá khoá 1 lần. Nội khoa hỏi 1 điều về Nội kinh, 1 điều về phép bắt  mạch, 4 điều về phép chữa bệnh ; ngoại khoa thì hỏi 6 điều về phép chữa thuốc. Ai thông được 5 – 6 điều là hạng ưu, 3 – 4 điều là bình, 1 – 2 điều là thứ, không

thông điều nào là liệt. Hạng ưu thưởng 4 tháng lương, hạng bình thưởng 2 tháng lương.

 

Triều phục của quan ngự y?

“Triều phục Ngự y và Phó ngự y ở viện Thái y cùng chung 1 bộ”.

Quy chế Triều phục của nhà Nguyễn cho quan hàng ngũ, lục phẩm gồm Mũ Phốc đầu kết hợp với Bổ phục Lê Trung Hưng.

Về sắc phục, quan Ngũ phẩm mặc bổ phục Vân nhạn màu bảo lam, áo bào làm bằng trừu thêu hoa. Quan Lục phẩm mặc bổ phục màu Bạch nhàn màu ngọc lan, áo bào làm bằng trừu bóng không thêu hoa.

Phốc đầu: là loại mũ 2 tầng, tầng sau nhô cao hơn tầng trước, là nơi chứa búi tóc. Gáy mũ đính 2 cánh chuồn nằm ngang. Ở thời Nguyễn, phốc đầu cho quan văn là mũ tròn.

Bổ phục: là loại trang phục mặc khi thiết triều (bào phục) có gắn Bổ tử trước ngực. Bổ tử là chỉ vuông vải thêu hình chim thú trước ngực hay sau lưng bào phục để phân biệt phẩm cấp của bá quan.

Nguồn: Nghìn năm áo mũ

Nguồn: Ngàn năm áo mũ

Nguồn dược liệu?

Nước Nam ta rừng vàng biên bạc, sản vật phong phú, bằng chứng là Thiền sư Tuệ Tĩnh đã viết rất nhiều các bộ sách nói về  dược liệu có nguồn gốc trong nước.

Nguồn dược liệu cho vua dùng phải là loại thượng hạng, các địa phương sẽ nộp thuế bằng dược liệu theo thế mạnh của từng vùng, đồng thời sẽ định lượng số lượng thuốc phải nộp theo đầu người.

Ngoài ra, còn do các viên chức ở Thái Y viện trao đổi buôn bán thuốc với người Hoa Kiều và hằng năm có chế độ định kì kiểm tra chất lượng thuốc.

Song hành với những nguồn cây thuốc quý, sự chen chân của cây thuốc phiện vào nước ta thời đó khiến vua Minh Mạng rất đau đầu. Ban đầu, là thứ thuốc mà quan lại, địa chủ mới dám dùng thì dần dần những ngày sau đó trở thành tệ nạn của xã hội lúc  quan lại thì tham ô, không quan tâm đến đời sống của nhân dân, dân đen thì không lo làm ăn, sa đọa mà bỏ quên thực tại xã hội tồi tàn, mục ruỗng. Vua Minh Mạng  vì thế rất cứng rắn trong việc nghiêm cấm thuốc phiện, vua nhất mực trừng phạt nặng những kẻ nghiện ngập, vô công dồi nghề. “Không kể quan hay dân, ai dám hút thuốc phiện, và cất giấu mà nấu nướng buôn bán thì xử tội đồ. Ai bắt được mà tố cáo thì thưởng bạc 20 lạng. Cha anh không hay răn cấm con em, xóm giềng biết mà không tố giác, đều bị xử trượng.”

🙞🙜

Vua Minh Mạng vốn có rất nhiều vợ con vì vậy cần có số thái giám và cung nữ phải đông đảo để phục vụ nhu cầu sinh hoạt hằng ngày, để chữa trị cho họ những khi ốm đau vua đã cho xây riêng một khu an dưỡng, khám và điều trị dưới sự trông coi của Thái Y Viện được đặt tên là Bình An Đường, nơi nay được xây dựng sát bên cửa hậu của hoàng thành Huế (nay thuộc đường Đặng Thái Hân, tp Huế). Giờ đây, Bình An Đường trở thành điểm du lịch kì thú của cố đô Huế. Đây là một điều đặc biệt hiếm có trong lịch sử triều đại phong kiến Việt Nam, một nơi riêng biệt chuyên khám chữa bệnh cho thái giám và các cung nữ.

Binh lính bị bệnh tự tìm thầy thuốc chữa trị,  bệnh nặng có thể xin phép ra khỏi trại để chữa bệnh. Nếu chẳng may mắc bệnh nan y họ được bãi dịch trở về quê.

🙜🙞

Các phương thuốc tiến vua?

Trong tất cả các vị vua triều Nguyễn, vua Minh Mạng là vị có nhiều phi tần và con cái nhất. Ngài có đến 142 người con gồm 78 hoàng tử và 64 công chúa. Tương truyền rằng, mỗi đêm ân ái với 6 bà cung phi thì có đến 5  bà thụ thai. Phương dược mà Ngự Y Lê Quốc Chước dâng cho vua là một loại thuốc bổ dương, giúp vua thêm phần tráng kiện. Dân gian về sau gọi là “Nhất dạ lục giao sinh ngũ tử” hay “ Minh Mạng thang”. Không ai biết chính xác các vị thuốc và số lượng trong thang, đã có tới 25 dị bản khác nhau của thang dược được sưu tầm. Ngày nay, tại Cố đô Huế, “Minh mạng thang” được bày bán rộng rãi như là một thứ thuốc ngâm rượu, để dùng hay mang về làm quà.

Nguồn: Internet

🙜🙞

Bệnh đậu mùa, dấu ấn không thể quên!

Triều đại nhà Nguyễn là triều đại phong kiến cuối cùng của Việt Nam, một triều đại có bối cảnh lịch rối ren phức tap, tình hình đất nước có nhiều biến động, thiên tai dịch lệ xảy ra nhiều trong đó phải kể đến sự xuất hiện bệnh đậu mùa.

“Năm Canh Thìn 1820, tháng 11 âm lịch, bệnh dịch lan tràn, khởi đầu từ Hà Tiên đến Bắc Thành. Nhiều người chết. Nhà nước chẩn cấp cho dân tổng cộng 73 vạn quan tiền”

Năm Canh Tý 1840 tháng 9 âm lịch ở Sơn Tây từ mùa xuân đến mùa thu có hơn 4900 người chết dịch.”

Người con trai cả của vua là hoàng tử Cảnh cũng qua đời vì bệnh đậu mùa. Với những ai phải trải qua mất mát, họ thấu hiểu được cuộc sống của những người ở lại khó khăn nhường nào. Ở cương vị là người đứng đầu, và cũng là một vị cha mất đi đứa con yêu dấu, ý định của vua Gia Long rất rõ ràng, đó là phải học được kĩ thuật chủng ngừa vaccine. Vậy mà, trời xanh phụ lòng người, ngày 3/2/1820, vua Gia Long băng hà, để lại công việc còn dang dở, chỉ còn lại hoàng tử Nguyễn Phúc Đảm sau này là vua Minh Mạng, quan ngự y riêng của Gia Long Jame Marie  Despiau và Philippie Vannier tiếp tục đảm nhận. Thông tin về vaccine đậu mùa đang ở Macao được truyền đến qua những người làm trên con tàu Pháp là Henri tới thăm quan kinh thành Huế. Vua Minh Mạng đã cử 2 người sang Macao học hỏi. Despiau đã học tập thành công phương pháp chủng ngừa, ông quay trở về Huế để chữa trị cho các con của vua Minh Mạng, sau đó còn tiếp tục truyền dạy kĩ thuật cho các Ngự Y trong Thái Y Viện.

Nguồn: Vietnamese Traditional Medicine

Câu chuyện đậu mùa là một câu chuyện dài, có phần ảnh hưởng nhất định tới triều đình Nguyễn lúc bấy giờ. Vua Tự Đức vị vua thứ 5 trong triều đại nhà Nguyễn từ nhỏ cũng mắc bệnh đậu mùa, thể trạng ông yếu ớt, vì vậy dù có tới 103 bà vợ nhưng ông không có lấy một người con mà phải nhận 3 người cháu làm con nuôi  đó là:

  • Trưởng Hoàng tử Nguyễn Phúc Ưng Ái tức vua Dục Đức
  • Hoàng tử Nguyễn Phúc Ưng Kỷ tức vua Đồng Khánh
  • Hoàng tử Nguyễn Phúc Ưng Đăng tức vua Kiến Phúc.

🙜🙞

Nếu không đề cập đến các ân oán giữa các triều đại, thì việc vua cho xây dựng miếu tổ thờ phụng là việc đại sự, không những đó là truyền thống quý báu được gìn giữ qua các thế hệ, mà đó là việc làm mong tổ tiên, các vị thánh nhân, hiền nhân phù hộ con dân, vua an tâm trị vì đất nước.

Để tưởng nhớ, ghi ơn và tỏ lòng thành kính đối với các vị thánh y, danh y thời trước, vua Minh Mạng cho xây dựng Miếu Tiên Y, hằng năm lấy ngày giáp tháng trọng xuân (tháng 2 âm lịch) trọng đông (tháng 11 âm lịch) sai quan tam phẩm đến tế. (Trước do Ngự y viện sứ đến tế). Về vị trí, miếu được xây dựng bên trái cạnh chùa Thiên Mụ nay thuộc huyện Hương Long, Hương Trà.

“Nguyên vào năm Minh Mạng thứ 6 (1825) nhà cua cho lập miếu Tiên Y nằm bên tả chùa Thiên Mụ. Năm 1849, vua Tự Đức thấy chỗ đất ấy ẩm ướt, miếu lại nhỏ hẹp nênban dụ giao cho Bộ Công tìm khu đất cao ráo dểd ựng lại chộng rãi hơn và giao cho Bộ Lễ sửa soạn định lại các việc phụng thờ các nghi tiết tế lễ”.

Một buổi tiêm chủng ở Bắc kỳ những năm đầu thế kỉ 20

 

Trải qua dấu vết thới gian, cùng với phải chịu ảnh hưởng của chiến tranh, miếu Tiên Y xuống cấp rât nhiều. Ngày nay, dưới sự quan tâm của UBND tỉnh, Hội Đông Y Huế và nhân dân quanh vùng đã chung tay sửa sang lại ngôi Miếu, đặt thêm 5 bài vị của các vị danh y: Danh y-tiên y phương Đông, Việt Nam, Tuệ Tĩnh thiền sư, Hải Thượng Lãn Ông, các tiên-danh y thời Nguyễn, các tiên-danh y của địa phương Thươà Thiên Huế.

Những thành tựu Y học của Ngự Y triều Nguyễn thật chưa đặc sắc, việc xây dựng Thái Y viện nhằm mục đích chăm sóc cho vua và hoàng tộc, tất cả bị hạn chế trong phạm vi quốc gia, do việc vua Minh Mạng đóng cửa không ngoại giao với bên ngoài, đặc biệt là các nước phương Tây sau vụ Despiau và sau này là sự can thiệp sâu vào chính quyền của  thực dân Pháp. Với chính sách cai trị “Đồng hóa người Việt”, làm mai một dần văn hóa người Việt đã ít nhiều ảnh hưởng đến cục diện y học cổ truyền nước ta lúc đó, số người biết chữ Hán ngày một ít đi, các sách thuốc lưu truyền lại còn rất ít, và hầu hết viết bằng chữ Hán. Giữa cơn khát sách y học, một điểm sáng trong số sách thuốc và y thuật thời bấy giờ có Ngư tiều vấn đáp của Nguyễn Đình Chiểu, gồm 3642 câu truyện thơ theo thể lục bát, có xen 21 bài thơ, phú trích từ sách thuốc Trung Quốc được ông viết bằng chữ Nôm. Về nội dung của sách đề cập đến nội dung mạch, dược, vận khí, nhi khoa, sản phụ. Người đời nhớ tới ông như một nhà yêu nước chân chính, thế thời loạn lạc khiến ông dù đỗ cao nhưng muốn về quê ở ẩn dạy học làm thuốc cứu đời. Do được viết theo lối truyện thơ nên người học rất dễ nhớ, dễ thuộc. Không chỉ dừng lại ở đó, ông cũng để lại cho đời những câu thơ về vệ sinh, phòng bệnh bởi lẽ “phòng bệnh hơn chữa bệnh”.🙜🙞

Trải qua nhiều biến cố thăng trầm lịch sử, nhất là khi thế cuộc có sự xâm nhập của văn hoá phương Tây và  sự xuất hiện của chữ Quốc Ngữ, Y học dưới triều Nguyễn dần trên đà trượt dài trong việc duy trì và phát triển. Các hoạt động chữa bệnh cũng dần bị thu hẹp, chủ yếu dước hình thức nối nghiệp “cha truyền con nối”, không có sự giao lưu trao đổi học hỏi kinh nghiệm. Thái Y Viện – cơ quan chăm sóc sức khỏe của triều đình nhà Nguyễn dưới thời Pháp thuộc, cũng sẻ chia những bể dâu trong lịch sử của một triều đình vong quốc. Sự kết thúc của triều Nguyễn tháng 8/1945 do đó cũng đặt dấu chấm hết cho Thái Y Viện trong sự tan rã chung của cả bộ máy hành chính vốn đã mục rỗng – đó là điều tất yếu, song, ít nhất người ta cũng vẫn luyến tiếc đến một nền Y học cổ truyền thời Nguyễn đã tồn tại và phát triển theo đường hướng một cách “xã hội hóa” tích tích cực, đã đem về những dấu ấn đáng học hỏi, tạo đà cho nền Y học nước nhà ngày một phong phú, đặc sắc.

Là một trong số những sinh viên học Y học cổ truyền, cá nhân tôi nhận thấy, những giá trị y học mới đang chỉ dừng lại ở mức hiểu biết, chứ chưa thực sự đào sâu. Trên lâm sàng, các chứng bệnh không còn như trong các y văn cổ, việc áp dụng tứ chẩn Vọng văn vấn thiết là chưa đủ, dưới sự phát triển mạnh của khoa học, việc lấy y học hiện đại để soi sáng là điều cần thiết bên cạnh những lý luận triết học rườm rà, khó hiểu.  Mỗi sinh viên chúng ta, cần  chăm chỉ học tập thật tốt , với mục đích  đưa nền y học  cổ truyền trở nên gần gũi, thiết thực hơn và để áp dụng một cách thuần thục. Việc đưa Thái Y viện thoát khỏi lớp vỏ bọc cao quý, đến gần hơn với nhân dân, để họ được trải nghiệm những dịch vụ mà trước kia chỉ vua chúa mới được hưởng thụ góp phần xây dựng một nền y tế toàn diện.

 

Tài liệu tham khảo:

     Tiếng Việt

  1. Quốc sử quán triều Nguyễn, Nxb Giáo Dục (2007), Đại Nam Thực Lục chính biên, tập II, tập VII, tr 481.
  2. Trần Quang Đức, Nxb Nhã Nam (2013), Ngàn năm áo mũ, tr 314-317.
  3. Nguyễn Thị Dương, “Đông Y Việt Nam thời Nguyễn”

http://www.vusta.vn/vi/news/Thong-tin-Su-kien-Thanh-tuu-KH-CN/Dong-y-Viet-\Nam-thoi-Nguyen-41744.html

  1. Trần Minh, “Thái Y viện triều Nguyễn – qua tài liệu mộc bản”

https://luutru.gov.vn/cong-bo-gioi-thieu-tai-lieu/thai-y-vien-trieu-nguyen-qua-tai-lieu-moc-ban.htm

  1. Wikipedia, “Vua Gia Long”

     https://vi.wikipedia.org/wiki/Gia_Long

  1. Wikipedia, “Vua Minh Mạng”

https://vi.wikipedia.org/wiki/Minh_M%E1%BA%A1ng

  1. Wikipedia, “Vua Tự Đức”

https://vi.wikipedia.org/wiki/T%E1%BB%B1_%C4%90%E1%BB%A9c

Tiếng Anh

  1. C.Michele Thompson, A Medical Misson: The Independent Vietnamese Quest for Small Pox Vaccine, In Vietnamese Traiditional Medicine: A social history, (Singapore: NUS press 2015), pp 25-45.

Tin liên quan
Đặt Lịch Khám
(Mọi thông tin của Quý vị đều được bảo mật 100%)
Chọn chuyên gia
Đặt Lịch